Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Truyền hình thực tế (Bài 1): Ồ ạt cùng đọc lại mua kịch bản. lãng quên sáng tạo.

Đặc biệt là với những game show tiêu khiển như Pop Idol

Truyền hình thực tế (Bài 1): Ồ ạt mua kịch bản, lãng quên sáng tạo

Khán giả nắm quyền quyết định các thí sinh bằng tin nhắn bầu chọn. Vấn đề là mỗi nhà nước điều khiển sự phát triển đó như thế nào? Món ăn ưa chuộng của thời đại? THTT (reality television) là thể loại chương trình truyền hình phản chiếu những diễn biến của sự kiện.

Song song cũng châm ngòi cho cuộc chạy đua mua kịch bản tiêu khiển “khủng” của nước ngoài.

Điểm đáng nói trong kịch bản này là cũng có hội đồng giám khảo ngồi nhận xét thí sinh; kết quả chung cục do khán giả bình chọn. Nguyên tố lăng-xê mạnh mẽ hơn nhiều so với các chương trình khác. Một hội đồng nghệ thuật ngồi nhận xét trực tiếp thí sinh.

Tr? chuy?n (talk show)? Trên thế giới. Nhiều chương trình trong số kể trên thành công vang dội. Kịch bản na ná SuperStar. Với các kịch bản THTT mua từ nước ngoài. Star Academy (Ngôi nhà âm nhạc - 2012). Sự phát triển của THTT trên thế giới đang được xem là một xu hướng thế tất.

Ở Việt Nam. Sau đó. Điều này dẫn đến nguy cơ là các nhà sinh sản muốn cạnh tranh thành công thì phải dùng kịch bản mới ngày một “khủng”. The Winner Is… (Tôi là người chiến thắng - 2013). Không phải kịch bản nào mua từ nước ngoài cũng thành công. Đặc biệt yếu tố tương tác với khán giả đã kéo hàng triệu người hàng đêm ngồi trước màn hình ti-vi để theo dõi.

Nó làm bại sinh sản kịch bản nội địa. Your Face Sounds Familiar (bộ mặt thân quen - 2013). Mỗi live show loại 1 thí sinh. Got Talent. Đổi lại. Vư?t?l?n?ch?nh?m?nh?(self-improvement/makeover). Sự sống động từ hiện trường.

Ngôi nhà âm nhạc. SM-ĐH 2004 thành công vang lừng. Có nhẽ sự thất bại của SuperStar làm nhà sản xuất Cát Tiên Sa quyết tâm “phục hận”.

Mới lạ. Tuốt tuột các chương trình nếu thành công thì phần lớn cũng chỉ “hot” mùa đầu. Càng về sau. Just The Two Of Us (Cặp đôi hoàn hảo - 2011). Giám khảo nhận xét thí sinh. Cặp đôi hoàn hảo. Kịch bản The Voice mua gần 1 triệu USD. Nhà sản xuất Cát Tiên Sa mua kịch bản Project SuperStar để thay cho phiên bản Tiếng hát truyền hình.

The Voice Kid (Giọng hát Việt nhí - 2013). Năm 2007 Vietnam Idol xuất hiện. Dẫu không phải là trước tiên. Sự trưởng thành của những nhân vật từ vô danh trở thành người rất nổi danh - “from zero to hero” (như slogan trong Vietnam Idol)… đã cuốn đông đảo người xem cũng như người dự cuộc chơi.

Điều đó cũng đồng nghĩa với một cuộc chạy đua mua kịch bản THTT với tốc độ “xài hàng” ngày một nhanh. Năm 2006. Và dĩ nhiên rất khó góp phần xây dựng ngành truyền hình lớn mạnh và mang bản sắc Việt (bởi yếu tố khác biệt về văn hóa là điều nan giải cho việc Việt hóa các kịch bản nước ngoài bây giờ) Hải Long Thể thao & Văn hóa Cuối tuần. Lục lạc vàng - chương trình THTT được xem là “made in Vietnam” hiếm hoi trong mặt bằng THTT giờ Chạy đua nhập khẩu chương trình Có thể nói Sao Mai - Điểm hẹn (SM-ĐH) 2004 là cuộc thi ca hát mang tính chất THTT đầu tiên trên sóng truyền hình Việt Nam.

Như một cơn lốc mạnh mẽ làm hàng triệu khán giả nao núng. X-Factor (dự kiến 2014). Nhưng giám khảo “sắc” và “sốc” hơn. Từ những năm 2000 trở đi. The Voice (Giọng hát Việt - 2012). Những kịch bản ăn khách nhất được Cát Tiên Sa mua gần hết để đều đặn mỗi năm trình làng một hoặc vài chương trình: Dancing With The Stars (Bước nhảy hoàn cầu - 2010).

Vietnam’s Got Talen (2011); Clash Of The Choirs (Hợp ca tranh tài - 2012).

Không có kịch bản sắp đặt trước. Sao Mai. Hình thức THTT khá đa dạng: tư liệu (documentary style) thi thố (elimination).

Các giám khảo “đấu khẩu” để tranh giành thí sinh… Trong những game show thi thố. The Voice… Nhiều chương trình đã trở thành “con cưng” của ngành truyền hình giải trí thế giới.

Nhưng đến thập niên 1960-1970 THTT thế giới có khuynh hướng hình thành kịch bản chứ không “ngẫu hứng” theo người chơi nữa. Giọng hát Việt… THTT với sự hấp dẫn. Chương trình THTT không đơn thuần phản ảnh người thật việc thật mà còn đi sâu vào sự phát triển của nhân vật để hình thành từng serie (chuỗi) chương trình. Đầu thập niên 2010. Nhưng quan trọng hơn.

Sự bất ngờ với những diễn biến tình huống. Hợp ca tranh tài. Big Brother (Người giấu mặt - 2013)… Tuy nhiên. Star Academy. THTT xuất hiện khá lâu (từ 1947 với chương trình Candid Camera do Allen Funt sản xuất tại Mỹ). Vòng chung kết 9 live show. Yếu tố tích cực là nó đã nâng cao được trình độ sản xuất và trình độ tổ chức của các nhà sinh sản trong nước.

THTT tại Việt Nam nở rộ với những game show giải trí như: Bước nhảy hoàn vũ. Vietnam’s Got Talent. Năm 1992. Bởi nó thu hút lượng người xem khổng lồ và đem về rất nhiều lợi nhuận cho nhà sản xuất. THTT trên thế giới nở rộ. Got To Dance (Vũ điệu mê say - 2013); Fashion Star (Ngôi sao thiết kế Việt Nam - 2013). Nguồn ngoại tệ đổ ra nước ngoài cũng khá lớn (theo tìm hiểu của TT&VH Cuối tuần.

Chương trình The Real Word trên kênh MTV với kịch bản dựa trên những câu chuyện diễn ra trong đời thực được xem là cột mốc đánh dấu bước chuyển biến quan yếu đối với THTT. Vietnam’s Next Top Model.

Không như các Ban giám khảo lẳng lặng ngồi nghe và chấm điểm ở nhiều cuộc thi trước đó. Bên cạnh đó một loạt chương trình của những nhà sản xuất khác cũng được mua về Việt Nam như: Vietnam’s Next Top Model (2010). Tiêu biểu như: SuperStar. Clash Of The Choirs… Và nhìn chung. Thử thách cùng bước nhảy. Chưa kể là từ mùa thứ hai nhà sinh sản phải chia cho đơn vị bản quyền kinh phí nhận được từ tài trợ).

So You Think You Can Dance (Thử thách cùng bước nhảy - 2012). Cảnh huống thật. Nhưng chương trình nữ giới thế kỷ 21 (từ kịch bản 21St Century Woman) xuất hiện trên VTV3 năm 2006 đã đem lại cho khán giả khái niệm ban sơ về THTT. Những nhân tố tương tác này đã đánh bại các cuộc thi “truyền thống” như Tiếng hát truyền hình. Tuy nhiên SuperStar ( Ngôi sao Tiếng hát truyền hình ) không thành công như mong chờ.

Từ mùa thứ hai nó sẽ giảm nhiệt trước một chương trình mới khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét